Thuật ngữ “tái hòa nhập cộng đồng” đã được quy định tại một điều luật của Luật Thi hành án hình sự (Điều 45). Tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù có thể hiểu là quá trình người chấp hành xong án phạt tù tự nhận thức, điều chỉnh tư duy và hành vi phù hợp với các quy định và chuẩn mực của xã hội dưới sự hỗ trợ, tạo điều kiện của Nhà nước và xã hội giúp cho họ tạo lập cuộc sống bình thường, hòa nhập với cộng đồng. Từ đó, có thể thấy rằng: - Tái hòa nhập cộng đồng là một quá trình kết hợp biện chứng hai chiều giữa sự nỗ lực cá nhân (tự giác) của người chấp hành xong án phạt tù và sự tác động chủ động, tích cực có định hướng của Nhà nước, xã hội để giúp cá nhân đó hòa nhập với cộng đồng. - Tái hoà nhập cộng đồng là quá trình liên tục được hình thành bởi các giai đoạn khác nhau và chịu sự tác động của các biện pháp cưỡng chế, quản lý hành chính - tư pháp - Tái hoà nhập cộng đồng là kết quả của cơ chế phối hợp chặt chẽ hoạt động của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau trong đó vai trò quan trọng nhất thuộc về cơ sở giam giữ phạm nhân, gia đình, chính quyền cơ sở. - Tái hòa nhập cộng đồng là một hoạt động chính trị, xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đây là sự chung tay của xã hội để giúp những người lầm lỡ trở thành người có ích, góp phần quan trọng trong công tác đấu trah phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội./.
Kho tri thức nghiệp vụ C11
Tài liệu Hỏi-Đáp
Toàn bộ nội dung hỏi – đáp nghiệp vụ đã được Cục C11 phê duyệt. Đây cũng chính là kho dữ liệu chuẩn mà Trợ lý ảo Hướng Thiện dùng để trả lời cho công dân.
Nội dung đã được phê duyệt
20 câu hỏiCông tác tái hòa nhập cộng đồng có thể hiểu là quá trình tác động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và gia đình đối với người chấp hành xong án phạt tù nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để họ xóa bỏ mặc cảm, tích cực hòa nhập với cộng đồng, nhanh chóng trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội. Công tác tái hòa nhập cộng đồng cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội, trong đó: - Các cơ sở giam giữ phạm nhân: là cơ quan có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho phạm nhân sau khi được ra tù nhanh chóng hòa nhập cộng đồng như: giáo dục văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp… các cơ sở giam giữ còn có trách nhiệm duy trì mối quan hệ với gia đình, chính quyền địa phương nơi phạm nhân cư trú trước khi phạm tội. - Chính quyền cơ sở: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Công an cấp xã là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc tổ chức triển khai việc thực hiện phần lớn các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù. - Gia đình: Sự động viên, khuyến khích trước hết về mặt tinh thần, tình cảm của những người thân là động lực để người chấp hành xong án phạt tù xóa bỏ những mặc cảm và tích cực rèn luyện, tu dưỡng bản thân ngay từ trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù và khi trở về địa phương. - Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp: Các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng không chỉ là cầu nối chính quyền với cá nhân người ra tù mà còn đóng vai trò độc lập, chủ động trong việc giáo dục, giúp đỡ, đại diện và bảo về quyền lợi ích hợp pháp cho chính thành viên thuộc tổ chức mình (phụ nữ, thanh niên, đoàn viên, cựu chiến binh …); các tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp là nhân tố quan trọng tạo điều kiện để người ra tù có cơ hội tiếp cận tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống./.
Công tác tái hòa nhập cộng đồng hiện nay được quy định trong Luật Thi hành án hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, như: 1) Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hoà nhập cộng đồng. 2) Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù. 3) Nghị định số 118/2024/NĐ-CP ngày 30/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự. 4) Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù./.
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Thứ nhất, là một bộ phận của công tác thi hành án hình sự, công tác tái hòa nhập cộng đồng phải tuân thủ các nguyên tắc trong thi hành án hình sự nói chung, quy định tại Điều 4 Luật Thi hành án hình sự: Thứ hai, tuân thủ các nguyên tắc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng quy định tại Điều 3 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng. Thứ ba, lưu ý về những hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự được quy định tại Điều 10 Luật Thi hành án hình sự./.
Quá trình tái hòa nhập cộng đồng là một quá trình phức tạp, kéo dài, được thực hiện ngay từ khi phạm nhân đang chấp hành án trong các cơ sở giam giữ phạm nhân cho đến khi chấp hành xong án phạt tù trở về cộng đồng xã hội. Cụ thể là 02 giai đoạn: - Giai đoạn chuẩn bị tái tái hòa nhập cộng đồng: Đây là giai đoạn thực hiện khi phạm nhân còn đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ phạm nhân. Phạm nhân được chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho giai đoạn hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù như: được giáo dục về văn hóa, pháp luật, đạo đức, tư tưởng và ý thức đúng đắn về cuộc sống lương thiện cũng như các kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của họ. - Giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng: Giai đoạn này, sau khi phạm nhân đã chấp hành xong án phạt tù trở về công đồng xã hội, hòa nhập với gia đình và cộng đồng dân cư tại địa phương nơi đối tượng trở lại sinh sống và giai đoạn người được ra tù khẳng định bản thân và ổn định cuộc sống./.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao. Trong công tác tái hòa nhập cộng đồng, các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như sau: 1. Quy định của Luật Thi hành án hình sự (Điều 204): - Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Chỉ đạo cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp dưới và có chính sách phù hợp để khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tìm việc làm, ổn định cuộc sống, học nghề, hòa nhập cộng đồng. - Yêu cầu Công an cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án hình sự ở địa phương. 2. Quy định của Luật Đặc xá (Điều 33): - Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đặc xá, Quyết định về đặc xá. - Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nhân thân; cấp giấy chứng nhận, xác nhận về việc chấp hành chính sách, pháp luật, hoàn cảnh gia đình hoặc giấy tờ, tài liệu cần thiết khác của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá. - Tiếp nhận, giúp đỡ người được đặc xá trở về hòa nhập với gia đình và cộng đồng, tạo điều kiện về việc làm, ổn định cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm tội, vi phạm pháp luật. 3. Quy định của Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng (Điều 20): - Chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng, phòng, chống tái phạm tội và vi phạm pháp luật. - Xây dựng chương trình, kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng. - Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan, tổ chức liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù về cư trú ở địa phương; quyết định tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội đối với người chấp hành xong hình phạt tù không nơi nương tựa thuộc đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội. - Quyết định thành lập các quỹ xã hội, quỹ từ thiện do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất theo quy định của pháp luật để hỗ trợ, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù vay vốn học nghề, tạo việc làm, ổn định cuộc sống. - Bố trí ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng; xem xét quyết định các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp, cho vay ưu đãi đối với người chấp hành xong hình phạt tù để tạo việc làm và có chính sách phù hợp để khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong hình phạt tù có điều kiện học nghề, tìm việc làm, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. 4. Quy định tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù (khoản 6 Điều 14): - Hằng năm, xem xét bố trí vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay theo quy định của pháp luật; - Chỉ đạo các Sở, ban, ngành, các đơn vị liên quan trình cấp có thẩm quyền phê duyệt cấp ngân sách địa phương hàng năm ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay; - Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc xác nhận về đối tượng và điều kiện thụ hưởng chính sách quy định tại Điều 3 Quyết định này; - Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Ngân hàng Chính sách xã hội tuyên truyền chính sách; tổ chức, giám sát triển khai thực hiện Quyết định này. 5. Quy định tại Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù: - Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội và Nhân dân trong công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Chú trọng quan tâm công tác tư vấn, đào tạo nghề nghiệp, giải quyết việc làm, xây dựng, nhân rộng các mô hình, cá nhân điển hình, các loại hình Quỹ xã hội để quản lý, giáo dục, hỗ trợ, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; - Chủ động nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp quy định của pháp luật và thực tiễn địa phương để khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù; lập dự toán chi thường xuyên hàng năm và đảm bảo kinh phí từ ngân sách, đồng thời huy động các nguồn lực khác của địa phương để thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; - Thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù lồng ghép trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương; trong từng giai đoạn, tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị định số 80/2011/NĐ-CP (nay là Nghị định số 49/2020/NĐ-CP)./.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác tái hòa nhập cộng đồng được quy định cụ thể tại Điều 22 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng như sau: - Thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù về cư trú tại địa phương. - Phân công tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm tiếp nhận, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện và vận động nhân dân trong khu vực dân cư phối hợp chặt chẽ với gia đình giám sát, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù. - Vận động và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tiếp nhận, giúp đỡ việc làm cho người chấp hành xong hình phạt tù. - Trợ giúp về tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý; làm thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định xóa án tích trong trường hợp đặc biệt cho người chấp hành xong hình phạt tù đã có tiến bộ rõ rệt và đã lập công theo quy định của pháp luật; báo cáo, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét rút ngắn thời gian thử thách; miễn chấp hành thời hạn còn lại của hình phạt bổ sung; miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự cho người chấp hành xong hình phạt tù khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; ưu tiên lựa chọn người chấp hành xong hình phạt tù tham gia chính sách việc làm công; áp dụng biện pháp hỗ trợ, can thiệp, bảo vệ đối với người chấp hành xong hình phạt tù là trẻ em khi trở về tái hòa nhập cộng đồng; thực hiện chính sách đối với người chấp hành xong hình phạt tù thuộc đối tượng bảo trợ xã hội./.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với đặc điểm đó, trong các văn bản Luật có liên quan đã có các quy định có liên quan đến công tác tái hòa nhập cộng đồng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cụ thể như: 1. Điều 34 Luật Đặc xá quy định trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận như sau: - Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đặc xá, Quyết định về đặc xá. - Phối hợp với chính quyền địa phương giúp đỡ người được đặc xá trở về hòa nhập với gia đình và cộng đồng, tạo điều kiện về việc làm, ổn định cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm tội, vi phạm pháp luật. - Giám sát việc thực hiện pháp luật về đặc xá theo quy định của pháp luật. 2. Tại Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng, Chính phủ đã chỉ đạo việc phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng, như: - Khoản 3 Điều 13 về trách nhiệm của Bộ Công an, quy định: Chỉ đạo Công an các cấp phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan, tổ chức có liên quan khác giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng. - Khoản 3 Điều 25 về trách nhiệm của Công an cấp xã, quy định: Lập hồ sơ quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành xong hình phạt tù; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể xã hội tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phân công tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù. 3. Tại Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 05/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chủ trì phối hợp giữa các tổ chức thành viên, trước hết là các tổ chức chính trị - xã hội với Công an cùng cấp tăng cường thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, lồng ghép trong thực hiện các đề án, chương trình, cuộc vận động, phong trào đang triển khai ở các địa phương; thực hiện trách nhiệm giám sát và phản biện đối với các chính sách giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù./.
Điều 26 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng, quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình tham gia giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù: - Chủ động nắm tình hình hoạt động, tâm tư nguyện vọng, những thuận lợi, khó khăn của người chấp hành xong hình phạt tù để phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan thống nhất biện pháp giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù thực hiện kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng của bản thân; tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống. - Động viên, nhắc nhở người chấp hành xong hình phạt tù chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của chính quyền địa phương; thực hiện các cam kết, nghĩa vụ của người chấp hành xong hình phạt tù, tích cực lao động, học tập và tham gia các hoạt động xã hội; kịp thời phát hiện, phản ánh với cơ quan Công an, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan chức năng địa phương về những biểu hiện, hành vi vi phạm của người chấp hành xong hình phạt tù để có biện pháp quản lý, giáo dục phù hợp./.
Hiện nay, quy định về người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng được thể hiện ở các văn bản khác nhau. Cụ thể như: 1. Luật Đặc xá quy định về quyền và nghĩa vụ của người đặc xá (Điều 33) như sau: - Được phổ biến chính sách, pháp luật về đặc xá; thông báo Quyết định về đặc xá, văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về điều kiện của người được đề nghị đặc xá và thông tin khác về đặc xá liên quan đến người được đề nghị đặc xá. - Liên hệ với thân nhân để thu thập giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá. - Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cấp, xác nhận giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc hoàn thiện hồ sơ đề nghị đặc xá. - Cung cấp giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền đề nghị đặc xá; khai báo đầy đủ, trung thực thông tin về cá nhân liên quan đến việc đề nghị đặc xá. - Khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương V của Luật này. 2. Tại Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng, người chấp hành xong án phạt tù được quy định như sau: - Được tạo điều kiện thuận lợi cho người chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật (khoản 2 Điều 3). - Phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù được hỗ trợ về các thủ tục pháp lý như: đăng ký cư trú; đăng ký hộ tịch; cấp căn cước công dân; vay vốn, đăng ký kinh doanh, ký kết hợp đồng lao động và các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều 5). - Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được ưu tiên đào tạo nghề, nâng cao tay nghề để có điều kiện thuận lợi tái hòa nhập cộng đồng (khoản 3 Điều 6). - Phạm nhân hết hạn chấp hành án phạt tù, được đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện trước khi trở về nơi cư trú được cấp hỗ trợ khoản tiền từ Quỹ hòa nhập cộng đồng của trại giam (khoản 1 Điều 7). - Người chấp hành xong hình phạt tù được hỗ trợ, hướng dẫn các thủ tục pháp lý cần thiết khi là người tham gia tố tụng hình sự; là đương sự tham gia tố tụng dân sự, hành chính; khi thực hiện các giao kết hợp đồng dân sự; làm thủ tục đề nghị Tòa án ra quyết định xóa án tích, đề nghị cấp Phiếu lý lịch tư pháp và thực hiện các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật. (khoản 2 Điều 10). - Người chấp hành xong hình phạt tù tham gia đào tạo nghề nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp, dưới 03 tháng được miễn, giảm học phí, hưởng chính sách nội trú, được hỗ trợ chi phí đào tạo, tiền ăn và tiền đi lại nếu thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành. Trường hợp người chấp hành xong hình phạt tù không thuộc đối tượng hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho các đối tượng này (khoản 1 Điều 11). - Người chấp hành xong hình phạt tù được vay vốn đào tạo nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về tín dụng đối với học sinh, sinh viên; được vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm, được ưu tiên đăng ký tham gia chính sách việc làm công theo quy định của pháp luật về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm (khoản 2 Điều 11). - Người chấp hành xong hình phạt tù dưới 18 tuổi được ưu tiên đào tạo nghề và hỗ trợ vay vốn để tạo việc làm; trẻ em chấp hành xong hình phạt tù được thực hiện các biện pháp hỗ trợ, can thiệp, bảo vệ phù hợp theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 11). - Người chấp hành xong hình phạt tù được chính quyền địa phương, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tiếp nhận, giáo dục, giúp đỡ để tái hòa nhập cộng đồng và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật (khoản 1 Điều 12). 3. Tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù quy định, đối tượng được vay vốn là người chấp hành xong án phạt tù: - Người chấp hành xong án phạt tù bao gồm người chấp hành xong thời hạn chấp hành án phạt tù đã được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù quy định tại Luật Thi hành án hình sự và người được đặc xá đã được cấp giấy chứng nhận đặc xá quy định tại Luật Đặc xá; - Cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh có sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù./.
Việc xác định án tích và xoá án tích đối với người chấp hành xong án phạt tù là nội dung rất quan trọng của công tác tái hòa nhập cộng đồng để làm căn cứ xác định có còn thuộc diện đối tượng tái hòa nhập cộng đồng. Khoản 1 Điều 69 Bộ luật Hình sự quy định: “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”. Bộ luật Hình sự đã quy định về chế định về xóa án tích tại Điều 69; các trường hợp xóa án tích và xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại các Điều: 70, 71, 72, 73 và Điều 107. Việc quy định chế định xóa án tích trong Bộ luật Hình sự thể hiện nguyên tắc xử lý mang tính nhân đạo, tôn trọng quyền con người của pháp luật hình sự Việt Nam: “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích” (điểm g, khoản 1, Điều 3. Nguyên tắc xử lý của Bộ luật Hình sự)./.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án hình sự thì: Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, được đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nội dung chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, bao gồm: - Tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý; - Định hướng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm; - Hỗ trợ một phần kinh phí từ Quỹ hòa nhập cộng đồng của trại giam. Cụ thể hoá quy định của Điều 45 Luật Thi hành án hình sự, Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng quy định các biện pháp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm nhân, gồm có: - Tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho phạm nhân. - Định hướng nghề nghiệp, nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm cho phạm nhân. - Hỗ trợ kinh phí từ Quỹ hòa nhập cộng đồng của trại giam cho phạm nhân khi tái hoà nhập cộng đồng. - Thông báo phạm nhân hết hạn chấp hành án phạt tù./.
Các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù đã được quy định trong LuậT Thi hành án hình sự và Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng. 1. Khoản 3 Điều 45 Luật Thi hành án hình sự về tái hoà nhập cộng đồng, quy định: Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tạo điều kiện, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp sau đây: - Thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng; - Dạy nghề, giải quyết việc làm; - Trợ giúp về tâm lý và hỗ trợ các thủ tục pháp lý; - Các biện pháp hỗ trợ khác. 2. Tại Chương III Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng quy định các biện pháp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng quy định các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù, gồm: - Thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hoà nhập cộng đồng. - Trợ giúp về tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho người chấp hành xong hình phạt tù. - Đào tạo nghề nghiệp, tạo việc làm cho người chấp hành xong hình phạt tù. - Các biện pháp hỗ trợ khác đối với người chấp hành xong hình phạt tù./.
Điều 5 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng quy định về biện pháp tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho phạm nhân như sau: - Về thời điểm: Trong khoảng thời gian hai tháng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù hoặc sau khi có kết quả thẩm định nhất trí đề nghị đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan có thẩm quyền, các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho phạm nhân. - Về nội dung: Tư vấn tâm lý nhằm cung cấp cho phạm nhân kiến thức, giúp họ định hướng và nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc gặp phải trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng. Nội dung tư vấn bao gồm: + Tư vấn tình cảm, hôn nhân, gia đình, sức khỏe; phòng, chống ma túy, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội; + Tư vấn xóa bỏ mặc cảm, tự ti; xây dựng ý chí, niềm tin, khả năng ứng phó, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng; + Tư vấn về lao động, việc làm, sử dụng các ngành nghề đã được học, bảo hiểm xã hội và các vấn đề khác có liên quan. - Về phương pháp tư vấn tâm lý cho phạm nhân: + Các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức cho phạm nhân đăng ký nhu cầu tư vấn bằng phiếu nêu các nội dung cần được tư vấn hoặc chủ động phát hiện các vướng mắc cần được tư vấn của phạm nhân, từ đó phân công cán bộ có kinh nghiệm, hiểu biết về các lĩnh vực để tư vấn trực tiếp cho phạm nhân. Có thể tư vấn riêng cho từng phạm nhân hoặc tư vấn nhóm cho số phạm nhân có cùng nội dung tư vấn; + Việc tổ chức tư vấn riêng phải được thực hiện trong các phòng tư vấn, có trang bị bàn ghế làm việc và các phương tiện cần thiết phục vụ cho việc tư vấn. - Phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù được hỗ trợ về các thủ tục pháp lý như: đăng ký cư trú; đăng ký hộ tịch; cấp căn cước công dân; vay vốn, đăng ký kinh doanh, ký kết hợp đồng lao động và các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật. - Các cơ sở giam giữ phạm nhân có thể mời cán bộ của ngành Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Hội Luật gia, Hội Liên hiệp Thanh niên, trường đại học, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm dịch vụ việc làm, các doanh nghiệp hoặc các cơ quan chức năng khác đến tư vấn, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho phạm nhân. Những người thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội đến tư vấn, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho phạm nhân phải được lãnh đạo cơ quan, tổ chức đó giới thiệu đến làm việc bằng văn bản và được Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đồng ý bố trí làm việc./.
Biện pháp thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù được quy định tại Điều 9 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng, người chấp hành xong hình phạt tù án hình sự tại cộng đồng như sau: - Thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng nhằm định hướng, khuyến khích cộng đồng xã hội tham gia giáo dục, giúp đỡ, xóa bỏ định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người chấp hành xong hình phạt tù; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, phòng ngừa việc tái phạm tội, vi phạm pháp luật của người chấp hành xong hình phạt tù. - Về nội dung thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng, gồm: + Chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù; + Quyền và nghĩa vụ của công dân, quyền và nghĩa vụ của người chấp hành xong hình phạt tù được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật; + Biện pháp, kinh nghiệm tốt, mô hình, điển hình tiên tiến trong quản lý, giáo dục, giúp đỡ, đấu tranh xóa bỏ định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người chấp hành xong hình phạt tù; + Nhân tố tích cực tham gia thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng và những gương hoàn lương, tiến bộ tiêu biểu; + Các nội dung khác có liên quan đến việc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù? - Về hình thức thông tin, truyền thông, giáo dục: + Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở, mạng internet, trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức có liên quan; + Phát hành các ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền; + Thông qua các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng, tư vấn, giáo dục cá biệt do báo cáo viên, tuyên truyền viên, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể ở địa phương tổ chức; + Thông qua các loại hình văn hóa truyền thống, văn hóa quần chúng, sáng tác văn học, nghệ thuật; + Các hình thức thông tin, truyền thông giáo dục khác./.
Trợ giúp pháp lý đối với người chấp hành xong án phạt tù được quy định cụ thể tại Điều 10 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng như sau: - Trợ giúp về tâm lý nhằm hỗ trợ, giúp đỡ người chấp hành xong hình phạt tù xây dựng niềm tin, nghị lực, ý chí phấn đấu tái hòa nhập cộng đồng và phòng tránh các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật. Nội dung trợ giúp về tâm lý gồm: tư vấn xóa bỏ mặc cảm tự ti; rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng hòa nhập cộng đồng; nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong các quan hệ xã hội. Trợ giúp về tâm lý được thực hiện ngay khi người chấp hành xong hình phạt tù trở về nơi cư trú, thông qua các hình thức sau: + Tổ chức tư vấn riêng, tư vấn nhóm; + Cung cấp thông tin, tài liệu trên cơ sở nhu cầu cần được trợ giúp của người chấp hành xong hình phạt tù; + Thông qua các buổi nói chuyện, sinh hoạt cộng đồng, diễn đàn với chủ đề về các nội dung người chấp hành xong hình phạt tù cần được trợ giúp; + Tư vấn thông qua mạng xã hội, trang thông tin điện tử, email, điện thoại và các phương tiện thông tin, truyền thông khác. - Người chấp hành xong hình phạt tù được hỗ trợ, hướng dẫn các thủ tục pháp lý cần thiết khi là người tham gia tố tụng hình sự; là đương sự tham gia tố tụng dân sự, hành chính; khi thực hiện các giao kết hợp đồng dân sự; làm thủ tục đề nghị Tòa án ra quyết định xóa án tích, đề nghị cấp Phiếu lý lịch tư pháp và thực hiện các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật./
Vấn đề đào tạo nghề nghiệp, tạo việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù được quy định tại Điều 11 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng và , như sau: - Người chấp hành xong hình phạt tù tham gia đào tạo nghề nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp, dưới 03 tháng được miễn, giảm học phí, hưởng chính sách nội trú, được hỗ trợ chi phí đào tạo, tiền ăn và tiền đi lại nếu thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành. Trường hợp người chấp hành xong hình phạt tù không thuộc đối tượng hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho các đối tượng này. - Người chấp hành xong hình phạt tù được vay vốn đào tạo nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về tín dụng đối với học sinh, sinh viên; được vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm, được ưu tiên đăng ký tham gia chính sách việc làm công theo quy định của pháp luật về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm. Căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sử dụng các nguồn tín dụng khác để hỗ trợ cho vay ưu đãi đối với người chấp hành xong hình phạt tù để phát triển sản xuất, tạo việc làm. - Người chấp hành xong hình phạt tù dưới 18 tuổi được ưu tiên đào tạo nghề và hỗ trợ vay vốn để tạo việc làm; trẻ em chấp hành xong hình phạt tù được thực hiện các biện pháp hỗ trợ, can thiệp, bảo vệ phù hợp theo quy định của pháp luật. - Căn cứ nhu cầu của người chấp hành xong hình phạt tù và thực tiễn thị trường lao động, Trung tâm dịch vụ việc làm tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho người chấp hành xong hình phạt tù; theo dõi, báo cáo tình trạng việc làm của người chấp hành xong hình phạt tù do trung tâm giới thiệu với cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ việc làm./.
Chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù được quy định cụ thể tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thể chế hoá quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách nhân văn, nhân đạo, khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta đối với người lầm lỗi, người đã có quá khứ phạm tội; không ai bị bỏ lại phía sau; tiếp nối và phát huy truyền thống nhân văn, nhân ái của dân tộc ta. Đồng thời cũng là để cụ thể hoá thi hành Điều 45 Luật Thi hành án hình sự quy định về tái hoà nhập cộng đồng và Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng. Quyết định được ban hành cũng sẽ tạo điều kiện cho tạo điều kiện cho người chấp hành xong án phạt tù có việc làm, cơ sở sản xuất kinh doanh có thêm điều kiện, động lực để tạo việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù, từ đó tạo ra của cải vật chất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước; khẳng định sự chung tay của Nhà nước và cộng đồng xã hội trong công tác tái tái hòa nhập cộng đồng, từng bước xoá bỏ kỳ thị, xa lánh của cộng đồng xã hội đối với người chấp hành xong án phạt tù, tạo điều kiện cho người chấp hành xong án phạt tù có những điều kiện thuận lợi để sớm tái hòa nhập cộng đồng. Đồng thời khi người chấp hành xong án phạt tù được tạo điều kiện vay vốn, có việc làm, ổn định cuộc sống sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội. Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định 02 nhóm đối tượng được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Đó là: Nhóm thứ nhất là cá nhân người chấp hành xong án phạt tù, gồm người chấp hành xong thời hạn bản án và người được đặc xá có nhu cầu vay vốn (đã có giấy chứng nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh). Họ phải đáp ứng các điều kiện là: Chấp hành tốt các quy định của pháp luật; không tham gia các tệ nạn xã hội và được Công an, Ủy ban nhân dân cấp cấp xã xác nhận, lập danh sách gửi Ngân hàng Chính sách xã hội. Mức vốn vay đối với cá nhân người chấp hành xong án phạt tù tuỳ theo mục đích vay: Cho vay để đào tạo nghề, học nghề: Tối đa 04 triệu/tháng/người; cho vay để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm: Tối đa là 100 triệu đồng/người. Nhóm thứ hai là các cơ sở sản xuất kinh doanh gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh có sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù. Nhóm này phải thoả mãn điều kiện là: được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật; sử dụng tối thiểu 10% tổng số lao động là người chấp hành xong án phạt tù; có phương án vay vốn và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện phương án xác nhận. Cơ sở sản xuất kinh doanh phải cam cam kết sử dụng thường xuyên tối thiểu 10% số lao động là người chấp hành xong án phạt tù; trường hợp cơ sở sản xuất kinh doanh không sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù hoặc sử dụng không đủ số lượng lao động là người chấp hành xong án phạt tù thì cơ sở sản xuất kinh doanh có trách nhiệm hoàn trả hoặc không được tiếp cận nguồn vốn vay. Mức vốn vay đối với cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù tối đa 02 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng/người lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh. Để hỗ trợ cho người chấp hành xong án phạt tù được thuận lợi trong việc thực hiện vay vốn, Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giao cho Công an cấp xã định kỳ hằng tháng tiến hành rà soát, lập danh sách những người chấp hành xong án phạt tù có nhu cầu vay vốn và có đủ điều kiện để chuyển cho Ngân hàng Chính sách xem xét cho vay vốn. Do vậy, người chấp hành xong án phạt tù có nhu cầu vay vốn có thể trình bày nguyện vọng với Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã để đưa vào danh sách./.
Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù đã quy định cho 02 loại đối tượng được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội là: Người chấp hành xong án phạt tù và cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù; đồng thời quy định về điều kiện được vay vốn từ ngân hàng Chính sách xã hội. Trong đó: * Với đối tượng là người chấp hành xong án phạt tù: Điều kiện được vay vốn là: Có nhu cầu vay vốn; có tên trong danh sách người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội, do Công an cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận theo Mẫu số 01 kèm theo Quyết định. Thời gian kể từ khi chấp hành xong án phạt tù đến thời điểm vay vốn tối đa là 05 năm. Trong đó, cần chú ý như sau: - Người được vay vốn là người chấp hành xong án phạt tù gồm: + Người chấp hành xong thời hạn chấp hành án phạt tù đã được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. + Người được đặc xá đã được cấp giấy chứng nhận đặc xá, kể cả người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đặc xá. - Đối tượng vay vốn không bao gồm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (đang chấp hành thời gian thử thách), người được hoãn chấp hành án phạt tù được đặc xá. - Đối tượng là người được tha tù trước thời hạn có điều kiện sau khi chấp hành xong thời gian thử thách và được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù thì được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. - Về điều kiện để vay vốn cần hiểu rõ: + Chấp hành tốt các quy định của pháp luật, nghĩa là: Có ý thức chấp hành, không vi phạm pháp luật và quy định của địa phương, cơ quan, tổ chức nơi sinh sống, học tập, làm việc. Đối với những trường hợp còn phải chấp hành hình phạt bổ sung (quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân), phải chấp hành nghiêm nghĩa vụ của người chấp hành án và yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quản lý, giám sát, giáo dục. + Không tham gia các tệ nạn xã hội, nghĩa là: Không có hành vi vi phạm bị lập biên bản hoặc bị xử lý vi phạm hành chính về tệ nạn xã hội (quy định tại Mục 2 Chương II Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình). + Thời gian đã chấp hành xong án phạt tù: 05 năm tính từ ngày chấp hành xong án phạt tù (ghi trên giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá) đến ngày lập danh sách (kể cả trường hợp đã hết thời hạn xoá án tích). * Với đối tượng là cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù: - Cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh có sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù - Điều kiện: Cơ sở sản xuất kinh doanh được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật; sử dụng tối thiểu 10% tổng số lao động là người chấp hành xong án phạt tù đáp ứng các điều kiện nêu tại điểm a khoản này và ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động; có phương án vay vốn và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện phương án xác nhận theo Mẫu số 02 kèm theo Quyết định. Trong đó cần chú ý: - Người chấp hành xong án phạt tù là lao động được cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng phải đảm bảo các điều kiện như đối với người chấp hành xong án phạt tù quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, nghĩa là phải đảm bảo yêu cầu: có tên trong danh sách người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội, do Công an cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận theo Mẫu số 01 kèm theo Quyết định; thời gian kể từ khi chấp hành xong án phạt tù đến thời điểm vay vốn tối đa là 05 năm. - Trường hợp cơ sở sản xuất kinh doanh không sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù hoặc sử dụng không đủ số lượng lao động là người chấp hành xong án phạt tù thì cơ sở sản xuất kinh doanh có trách nhiệm hoàn trả hoặc không được tiếp cận nguồn vốn vay này./.
Định hướng nghề nghiệp, nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm cho phạm nhân là một nội dung quan trọng trong biện pháp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù, quy định tại Điều 6 Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng như sau: - Các cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá năng lực, nhu cầu, điều kiện, hoàn cảnh của từng phạm nhân để hướng dẫn họ lập kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng cho bản thân; phối hợp với các Trung tâm dịch vụ việc làm cung cấp thông tin thị trường lao động, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho phạm nhân. - Căn cứ vào khả năng, nhu cầu của phạm nhân, thị trường lao động và điều kiện cụ thể, ba tháng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, các cơ sở giam giữ phạm nhân lập kế hoạch, phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổ chức đào tạo nghề, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân. - Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được ưu tiên đào tạo nghề, nâng cao tay nghề để có điều kiện thuận lợi tái hòa nhập cộng đồng. - Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức đào tạo nghề, nâng cao tay nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù và liên hệ với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất giới thiệu, tạo việc làm cho họ./.

